Dư nợ ngoại tệ tăng cao khiến cân đối nguồn ngoại tệ có vấn đề, vàng tiếp tục “chảy máu” là những nhân tố gây bất ổn thị trường ngoại tệ trong thời gian tới.
Thế nhưng, hiện nhà quản lý vẫn chưa có động thái đáng kể nào để ngăn những mối
lo nhãn tiền này.
Chóng mặt với dư nợ ngoại tệ
Theo báo cáo mới nhất của Chính phủ trình Quốc hội, từ đầu năm đến nay, Ngân
hàng Nhà nước đã mua vào 4 tỷ USD. Tất nhiên con số này đang cải thiện đáng kể
dự trữ ngoại hối hiện có, nhưng có vẻ như chúng đang phủ mờ lên khá nhiều nhân
tố bất ổn tiềm ẩn mà đầu tiên là vấn đề thanh khoản ngoại tệ.
Theo tìm hiểu của người viết, từ đầu năm đến nay, tốc độ tăng dư nợ ngoại tệ
luôn cao hơn tốc độ tăng dư nợ VND.
Tháng 1/2011 so với tháng 12/2010, dư nợ USD của hệ thống ngân hàng đạt 25,393
triệu USD, tăng 2,11% so với tháng 12/2010 trong khi tín dụng VND chỉ tăng
1,06%. Khối ngân hàng thương mại cổ phần có mức tăng dư nợ USD cao nhất với
3,39% và đứng sau đó là khối ngân hàng thương mại nhà nước tăng 1,39%.
Trong tháng 2/2011, dư nợ USD đạt 25,74 triệu USD, tốc độ tăng chững lại một
chút so với tháng trước, ở mức 1,42% so với 2,11%, trung bình tăng 1,77%/tháng;
trong khi tín dụng VND chỉ tăng 0,16%.
Bóc tách từng khối và so sánh với tháng trước, thấy rằng, nếu tháng 1/2011, khối
cổ phần và nhà nước tăng cao nhất thì ở tháng 2, khối tổ chức tín dụng phi ngân
hàng độc chiếm ngôi đầu với mức tăng 3,91%. Tiếp đó, khối nước ngoài tăng 1,83%;
khối cổ phần tăng 1,56%; khối nhà nước tăng 0,45% và chỉ có khối liên doanh giảm
1%.
Ở tháng 3/2011, trong khi dư nợ VND toàn hệ thống tăng 0,16% thì dư nợ USD tăng
0,42%.
So tháng 4/2011 với tháng 3/2011, dư nợ VND toàn hệ thống chỉ tăng 1,02%, còn
dư nợ USD toàn hệ thống đạt 26,76 tỷ USD, tăng 2,82%, đạt mức tăng cao nhất
trong 4 tháng đầu năm, bình quân mỗi tháng tăng 1,86%.
Trong đó, khối cổ phần đạt dư nợ 13.548 triệu USD, chiếm 50,62% dư nợ ngoại tệ
toàn hệ thống; tăng 4,47% so với tháng 3/2011 và tăng 12,86% so với tháng
12/2010!
Còn khối ngân hàng nước ngoài tăng 1,71%; khối ngân hàng thương mại Nhà nước
tăng 0,95%; khối liên doanh tăng 0,27%., duy nhất khối tổ chức tín dụng phi ngân
hàng giảm 0,59%. Cũng trong 4 tháng đầu năm, bình quân mỗi tháng, tín dụng ngoại
tệ tăng 1,86%.
Đến tháng 5/2011, đà tăng dư nợ ngoại tệ vẫn chưa chịu dừng lại. Chỉ tính riêng
khối ngân hàng thương mại cổ phần, dư nợ USD đạt 14 tỷ USD, chiếm 51% dư nợ cho
vay ngoại tệ toàn hệ thống.
Tốc độ tăng dư nợ USD của khối này ở tháng 5 tăng 5,56% so với tháng 4/2011 và
tăng 19,14% so với tháng 12/2010. Và trong khi tính bình quân 5 tháng đầu năm,
dư nợ ngoại tệ toàn hệ thống chỉ tăng 2,28%/tháng thì tốc độ này của khối cổ
phần lên tới 3,52%/tháng.
Tháng 6 thì sao? Ngân hàng Nhà nước cho biết, tính đến 10/6, tín dụng VND chỉ
tăng 2,72% còn tín dụng ngoại tệ tăng 22,21%. Tính riêng địa bàn Hà Nội thì đến
30/6, dư nợ quy đổi của tất cả các tổ chức tín dụng tại đây ước đạt 555.280 tỷ
đồng, tăng 0,94% so với cuối tháng 5/2011, tăng gần 8,9% so với cuối 2010 và
tăng 27,7% so với cùng kỳ 2010.
Đặc biệt, mặc dù tốc độ tăng dư nợ VND chỉ 5,2% thì dư nợ ngoại tệ tăng tới
17,25%.
![]() |
| Theo báo cáo mới nhất của Chính phủ trình Quốc hội, từ đầu năm đến nay, Ngân hàng Nhà nước đã mua vào 4 tỷ USD |
Hiểm họa vay trước trả sau
Giải thích câu chuyện dư nợ USD tăng vọt từ đầu năm đến nay, nhiều cán bộ kinh
doanh ngoại tệ từ các ngân hàng khẳng định: chênh lệch lãi suất “đô - đồng” là
nguyên nhân căn bản.
Theo đó, so sánh lãi vay VND cho sản xuất kinh doanh trên 21%/năm, vay phi sản
xuất từ 22% - 25%/năm; còn lãi vay USD khoảng 6% - 7,5%/năm, nếu kể cả trượt giá
thêm vài phần trăm trong năm nay thì giá vốn vay USD cũng chỉ dưới 10%/năm, rẻ
hơn vay VND ít nhất 10%/năm. “Như thế, có ai lại không vay ngoại tệ?”, cán bộ
một ngân hàng nói.
Qua tìm hiểu, đối tượng vay ngoại tệ thường có hai dạng: doanh nghiệp xuất khẩu
vay ngoại tệ bán ngay cho ngân hàng lấy VND thu mua hàng hóa trong nước để xuất
khẩu. Đối tượng thứ hai là doanh nghiệp không thuộc diện trên nhưng bằng cách
nào đó, họ có được những bộ chứng từ đáp ứng đủ điều kiện vay ngoại tệ.
Sau vay, họ bán ngoại tệ cho ngân hàng thu tiền đồng về và dù để kinh doanh hay
gửi ngược vào ngân hàng với mức 17% - 18%, vẫn được lợi ít nhất 7% - 8%/năm.
| TIN LIÊN QUAN | |
![]() |
Tìm nguyên nhân ngân hàng bất ngờ đua ‘xả’ USD |
![]() |
“Cởi“ chính sách để “sống chung“ với biến động giá vàng |
![]() |
Vì sao Ngân hàng Nhà nước mua vào nhiều ngoại tệ? |
![]() |
Chênh lệch lãi suất nội - ngoại tệ quá lớn |
![]() |
Ngân hàng Nhà nước đã mua vào 4 tỷ USD |
![]() |
Tỷ giá USD/VND biến động bất thường? |
Một vấn đề đặt ra, người vay có sợ rủi ro tỷ giá không? Từ đầu 2011, Ngân hàng
Nhà nước đã phá giá VND tới 9,3%. Nhiều năm gần đây, mức độ mất giá của VND so
với USD chỉ trên dưới 10%/năm. Vì thế, người vay có thể “đoán” rằng, rất khó để
Ngân hàng Nhà nước đánh tụt giá VND quá mức này, thậm chí, giá VND giảm thêm vài
ba phần trăm thì vẫn lãi. Đó là động lực của “trò chơi tiền tệ” mà không cần
phải quá mạo hiểm.
Nhiều chuyên gia nhận xét rằng, có vẻ như vòng luẩn quẩn của 2010 đang lặp lại.
Theo đó, khi những khoản vay này đến kỳ trả nợ và thường là trùng với thời điểm
thanh toán cuối năm (từ cuối quý 3 trở đi), sẽ phát sinh lực cầu USD rất lớn,
gây áp lực lên tỷ giá.
Minh chứng cho quan điểm này, một chuyên gia phân tích: gần đây, trên thị trường
bắt đầu xuất hiện hành vi “lách trần lãi suất tiền gửi ngoại tệ”. Lý do là khi
tốc độ cho vay ngoại tệ tăng nhanh hơn tốc độ huy động thì thanh khoản ngoại tệ
sẽ khó khăn, các ngân hàng lâm vào tình trạng mất cân đối nguồn.
Lúc đó, cạnh tranh sẽ gay gắt hơn và “miếng võ” lãi suất sẽ được giở ra đầu
tiên. Trong điều kiện Ngân hàng Nhà nước khống chế lãi suất tiền gửi ngoại tệ
(theo Thông tư 09) đối với dân cư ở mức 3%năm thì sẽ nảy sinh hiện tượng “lách
trần” như đối với với lãi suất VND lâu nay.
Tuy nhiên, một sự khác biệt và rất nguy hiểm ở đây là nếu thiếu VND, Ngân hàng
Nhà nước có thể điều tiết trực tiếp bằng cách bơm tiền qua các kênh tái cấp vốn
hay OMO, nhưng với USD, Ngân hàng Nhà nước rất khó xoay xở.
Lý do là thiếu công cụ điều tiết lượng USD trên thị trường, ngoại trừ dự trữ bắt
buộc và một vài công cụ rời rạc khác. Trong trường hợp cực chẳng đã, Ngân hàng
Nhà nước phải bán ngoại tệ ra nhưng bán bao nhiêu cho đủ?
Bài học năm 2009 và hai tháng đầu 2010 cho thấy: Ngân hàng Nhà nước càng bán ra,
thị trường càng kỳ vọng tăng giá, dẫn đến gia tăng hành vi găm giữ, làm cho thị
trường thiếu ngoại tệ và dồn nén áp lực lên tỷ giá, buộc Ngân hàng Nhà nước phải
phá giá VND.
Cầm vàng, sao để vàng rơi?
Trong câu chuyện tỷ giá ngày hôm nay, không thể không nhắc tới vấn đề tái xuất
vàng.
Theo Tổng cục Thống kê, trong 6 tháng đầu năm, Việt Nam đã xuất khẩu một lượng
đá quý, kim loại quý mà chủ yếu là vàng lên tới 1,027 tỷ USD và con số này tiếp
tục được gia tăng trong tháng 7/2011.
Đối với Việt Nam, vàng là nhân tố ảnh hưởng tương đối nhiều đến tỷ giá vì dòng
tiền của vàng rất lớn nhưng mang tính ngắn hạn. Bởi thế, cùng với hành vi vay
USD bán lại USD cho ngân hàng, xuất khẩu vàng đã mang về một lượng lớn USD can
thiệp vào thị trường, dẫn đến tỷ giá tương đối ổn định trong thời gian gần đây.
Nhưng đó có là xu hướng bền vững hay không, chí ít là đến hết năm nay lại là
chuyện khác. Bởi, khi giá vàng thế giới cao hơn trong nước, doanh nghiệp sẽ xuất
vàng nhưng khi xu hướng kia diễn ra ngược lại, tất yếu sẽ phải nhập khẩu vàng.
Và nếu Ngân hàng Nhà nước không cấp quota nhập khẩu thì sẽ phát sinh nhập lậu và
đó là tiền đề cho hành vi vơ vét USD trên thị trường tự do, làm trầm trọng thêm
tâm lý găm giữ USD như từng xảy ra năm ngoái.
Một minh chứng cho vấn đề găm giữ là mặc dù Chính phủ đã có chủ trương yêu cầu
tất cả tập đoàn, tổng công ty nhà nước bán ngoại tệ cho ngân hàng nhưng qua tìm
hiểu của người viết ở một ngân hàng thương mại nhà nước, họ chỉ mua được 2%/tổng
số ngoại tệ mà các đối tượng này đang treo trên tài khoản!
Xung quanh vấn đề tái xuất vàng, vòng quay đang diễn ra như sau: doanh nghiệp
mua vàng của dân để xuất khẩu, thu ngoại tệ, bán lại cho ngân hàng thương mại,
ngân hàng thương mại bán tiếp cho Ngân hàng Nhà nước.
Như thế, phải qua 5 công đoạn, Ngân hàng Nhà nước mới thu được ngoại tệ sau khi
bơm một lượng VND tương ứng ra thị trường.
Một số ý kiến phân tích tỏ ra ngạc nhiên, rằng không hiểu vì lý do gì mà không
rút ngắn vòng luẩn quẩn trên bằng cách mua vàng ở một mức giá nào đó để đôi bên
cùng có lợi.
Như thế, Ngân hàng Nhà nước vừa có vàng để đa dạng hóa dự trữ ngoại hối quốc
gia, tránh lãng phí nguồn tài nguyên vô giá nhưng hữu hạn, nhất là trong lúc
nhiều ngân hàng trung ương các nước thi nhau mua vàng. Mặt khác, khi cầu vàng
trong nước lên, Ngân hàng Nhà nước có thể bán vàng thu VND về, tránh chảy máu
vàng ra nước ngoài. Còn nếu e ngại lạm phát thì Ngân hàng Nhà nước có thể “bơm -
hút” VND qua nghiệp vụ OMO. Có phải Ngân hàng Nhà nước không muốn “ôm rơm rặm
bụng”?
Theo Nguyễn Hoài
VnEconomy
- Giá thịt lợn có thể vẫn tiếp tục tăng - Thị trường
- Dân "chịu chơi", tăng gom vàng giá "khủng" - Thị trường
- Đánh thuế xuất khẩu vàng: Khó tránh xuất lậu - Thị trường
- Tiền nhàn rỗi: Hết thời lướt sóng - Thị trường
- Vàng vẫn tiếp tục tăng - Thị trường
- Vàng lại lên mức 3,95 triệu đồng/chỉ - Thị trường
- Lãi suất có thể giảm từ tháng 9 - Thị trường
- Người Hà Nội “mạnh chi” cho du lịch - Thị trường
- Vì sao Ngân hàng Nhà nước mua vào nhiều ngoại tệ? - Thị trường
- Giới đầu tư “cược” giá vàng còn bật mạnh - Thị trường

